Lịch sử dân tộc và hình tượng các lãnh tụ cách mạng là bộ phận quan trọng cấu thành nền tảng tư tưởng, bản sắc văn hóa và sức mạnh tinh thần của quốc gia. Trong bối cảnh bùng nổ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và các phương tiện truyền thông xã hội, việc xuyên tạc hình tượng lãnh tụ, lịch sử dân tộc không chỉ diễn ra bằng những luận điệu công khai, thô thiển, mà còn được che đậy dưới danh nghĩa “nghiên cứu độc lập”, “đối thoại học thuật”, “phản biện xã hội”, “tự do ngôn luận”, “tiếp cận đa chiều”. Thủ đoạn này nguy hiểm ở chỗ, nó “khoác” lên thông tin sai lệch một lớp vỏ mạo danh học thuật, khiến công chúng, nhất là một bộ phận người trẻ, khó phân biệt giữa phản biện khoa học chân chính với sự cắt xén, suy diễn, đánh tráo và phủ nhận sự thật lịch sử.
Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị, về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới xác định, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Kết luận số 89-KL/TW, ngày 25-7-2024, của Bộ Chính trị, về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị khóa XII, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” nêu rõ: Nguy cơ phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm suy giảm “thế trận lòng dân”, làm suy yếu năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, của chế độ ta từ gốc, từ bên trong được đánh giá là nguy hiểm nhất”. Từ yêu cầu đó, cần nhận diện đúng bản chất các thủ đoạn lợi dụng danh nghĩa nghiên cứu, phản biện học thuật và tự do ngôn luận để xuyên tạc hình tượng lãnh tụ, lịch sử dân tộc; đồng thời xây dựng luận cứ phản bác, có cơ sở chính trị, pháp lý, lịch sử và khoa học.
Lợi dụng danh nghĩa nghiên cứu, phản biện học thuật để xuyên tạc
Xuyên tạc hình tượng lãnh tụ, lịch sử dân tộc không phải là hiện tượng mới. Xuyên tạc lịch sử vốn là một thủ đoạn của chiến tranh tâm lý, nhằm đánh vào ký ức cộng đồng, truyền thống, niềm tin và lòng tự hào dân tộc. Lịch sử không đơn thuần là những sự kiện đã qua, mà còn là nền tảng tinh thần giúp mỗi quốc gia - dân tộc xác lập bản sắc, định hướng giá trị và củng cố sức mạnh đoàn kết. Vì vậy, bóp méo lịch sử, hạ thấp lãnh tụ, phủ nhận thành quả cách mạng thực chất là một phương thức tấn công vào nền tảng tư tưởng, vào niềm tin chính trị - xã hội và vào sự đồng thuận quốc gia.
Trong những năm gần đây, các thủ đoạn xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh, các lãnh tụ cách mạng và lịch sử dân tộc có những biểu hiện mới.
Thứ nhất, thủ đoạn khoác áo “khách quan khoa học”, “phản biện xã hội”, “nghiên cứu độc lập” để đánh tráo học thuật. Những người sử dụng thủ đoạn này thường không phủ nhận trực diện ngay từ đầu, mà đặt ra những nghi vấn tưởng như “trung lập”, lựa chọn một vài chi tiết rời rạc, một vài lời kể chưa được kiểm chứng, một vài suy đoán về đời tư hoặc hoàn cảnh lịch sử, rồi thổi phồng thành “phát hiện mới”. Cách làm đó không nhằm mở rộng tri thức lịch sử, mà nhằm gieo hoài nghi, từng bước làm suy giảm niềm tin của công chúng đối với lãnh tụ, Đảng và con đường cách mạng Việt Nam.
Thứ hai, thủ đoạn tách rời sự kiện khỏi điều kiện lịch sử cụ thể. Những người xuyên tạc thường lấy chuẩn mực, hệ giá trị hoặc bối cảnh hiện tại để phán xét một chiều các quyết định lịch sử trong điều kiện chiến tranh, thuộc địa, chia cắt dân tộc, đối đầu ý thức hệ và đấu tranh giải phóng dân tộc. Họ bỏ qua bối cảnh Việt Nam là một dân tộc thuộc địa, bỏ qua khát vọng độc lập, tự do của nhân dân, bỏ qua thực tiễn các phong trào yêu nước trước đó bế tắc, từ đó quy kết con đường cách mạng Việt Nam là “sai lầm lịch sử”(?!). Cách lập luận ấy không phải nghiên cứu lịch sử, mà là phi lịch sử, phản khoa học, bởi nó phủ nhận nguyên tắc lịch sử - cụ thể trong nhận thức và đánh giá sự kiện.
Thứ ba, thủ đoạn đánh tráo giữa phê bình khoa học với phủ nhận giá trị lịch sử. Khoa học lịch sử luôn cần đối thoại, kiểm chứng, bổ sung tư liệu và làm sâu sắc nhận thức. Tuy nhiên, đối thoại khoa học khác căn bản với việc lợi dụng “đối thoại” để hợp thức hóa sự bịa đặt, vu cáo, xúc phạm lãnh tụ, phủ nhận thành quả cách mạng. Phản biện khoa học đòi hỏi chứng cứ, phương pháp, đối thoại bình đẳng và thiện chí tìm kiếm sự thật; còn xuyên tạc lịch sử dùng thủ pháp cắt ghép, suy diễn, quy chụp, kích động cảm xúc và phục vụ mưu đồ chính trị.
Thứ tư, thủ đoạn lợi dụng không gian mạng, thuật toán lan truyền và tâm lý tiếp nhận nhanh của công chúng. Trên các nền tảng số, thông tin giật gân, gây sốc, đánh vào đời tư, nghi vấn, bí mật, “hồ sơ chưa công bố” thường dễ thu hút người xem hơn các công trình nghiên cứu nghiêm túc. Khi những mẩu tin ngắn, video cắt ghép, bình luận cảm tính được lan truyền liên tục, chúng có thể tạo ra hiệu ứng sự “lộng giả thành chân”: Điều sai lặp đi lặp lại nhiều lần khiến một bộ phận người tiếp nhận tưởng là đúng. Đây là thách thức mới đối với giới nghiên cứu, bởi sự thật khoa học nếu chỉ nằm trong thư viện, giáo trình, hội thảo chuyên ngành thì rất khó cạnh tranh với tốc độ lan truyền của thông tin sai lệch trên không gian mạng.
Thứ năm, thủ đoạn lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để xảo biện cho việc xuyên tạc lịch sử. Hiến pháp năm 2013 khẳng định, công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, nhưng việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định(1). Luật Báo chí năm 2025, tại Điều 8, nghiêm cấm các hành vi đăng, phát thông tin xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của tổ chức, cá nhân. Như vậy, tự do ngôn luận không phải là quyền vô hạn; càng không thể là vỏ bọc cho hành vi bịa đặt, vu khống, xúc phạm lãnh tụ và truyền thống dân tộc.
Đấu tranh phản bác luận điệu đồng nhất tự do học thuật với quyền phủ nhận sự thật lịch sử
Luận điệu thường gặp hiện nay cho rằng, đã là nghiên cứu thì có quyền nêu mọi nhận định, kể cả phủ nhận các kết luận lịch sử đã có. Luận điệu này cố tình đồng nhất tự do học thuật với tùy tiện học thuật, đồng nhất phản biện khoa học với phủ định vô căn cứ. Đây là sự đánh tráo bản chất cần được phản bác rõ ràng.
Tự do học thuật là điều kiện quan trọng để khoa học phát triển. Nhưng tự do học thuật không bao giờ tách rời trách nhiệm học thuật. Trong bất kỳ nền khoa học nghiêm túc nào, nhà nghiên cứu phải tuân thủ các chuẩn mực tối thiểu: Trung thực với tư liệu, tôn trọng chứng cứ, công khai nguồn dẫn, kiểm chứng liên nguồn, phân biệt sự kiện với suy luận, phân biệt giả thuyết với kết luận, phân biệt nhận xét cá nhân với tri thức đã được cộng đồng khoa học thẩm định. Không có chuẩn mực đó, cái gọi là “nghiên cứu” chỉ còn là sự tùy tiện của ý chí chủ quan.
Đối với lịch sử dân tộc và lãnh tụ cách mạng, yêu cầu khách quan, trung thực càng trở nên nghiêm ngặt. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một nhân vật lịch sử, mà còn là lãnh tụ của cách mạng Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta. UNESCO năm 1987 đã ghi nhận đóng góp quan trọng của Người vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội(2). Những giá trị đó không thể bị phủ nhận bằng các mẩu chuyện rời rạc, suy đoán chủ quan hoặc cách diễn giải thiếu phương pháp khoa học.
Sự thật là tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm sâu sắc và toàn diện về cách mạng Việt Nam; là sự vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta; là cơ sở quan trọng để Đảng hoạch định đường lối cách mạng đúng đắn. Đại hội VII của Đảng xác định, Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động(3); Đại hội XIII(4) và Đại hội XIV(5) của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; coi đây là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và là cơ sở lý luận để lãnh đạo sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Vì vậy, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là nhằm tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng.
Bên cạnh đó, một số luận điệu cho rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh “tiếp thu máy móc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, thiếu tư tưởng riêng về cách mạng Việt Nam”(?!). Cách nhìn này phiến diện và sai lầm. Chính Người đã giải quyết sáng tạo mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; khẳng định cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể chủ động giành thắng lợi; đề cao vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng quan niệm về nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; coi đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng. Những đóng góp ấy đã được thực tiễn cách mạng Việt Nam kiểm nghiệm bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cũng như thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới.
Một số luận điệu khác lại tách Hồ Chí Minh khỏi chủ nghĩa xã hội, cho rằng “Người chỉ là nhà yêu nước, không phải nhà tư tưởng cộng sản”(?!). Đây cũng là sự cắt xén có chủ đích. Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng năm 1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc xác định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản(6). Người khẳng định, “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(7). Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng Việt Nam.
Do đó, cần khẳng định: Nghiên cứu lịch sử không đồng nghĩa với quyền phủ nhận sự thật lịch sử; tự do học thuật không đồng nghĩa với tự do bôi nhọ lãnh tụ; phản biện khoa học không đồng nghĩa với phủ định nền tảng tư tưởng. Đội ngũ trí thức, cán bộ nghiên cứu, giảng dạy chân chính càng cần bảo vệ môi trường học thuật cởi mở, càng phải kiên quyết chống lại sự giả danh học thuật để xuyên tạc lịch sử.
![]() |
| Trong bất kỳ nền khoa học nghiêm túc nào, nhà nghiên cứu phải tuân thủ các chuẩn mực tối thiểu: Trung thực với tư liệu, tôn trọng chứng cứ, công khai nguồn dẫn... _Ảnh: Tư liệu |
Cảnh giác với mưu đồ xuyên tạc bằng tư liệu đơn lẻ, thông tin chưa kiểm chứng
Một trong những thủ đoạn phổ biến của thông tin sai lệch là lấy một chi tiết rời rạc thay cho toàn bộ tiến trình lịch sử; lấy lời kể chưa kiểm chứng thay cho tư liệu gốc; lấy giả thuyết thay cho kết luận; lấy cảm xúc cá nhân thay cho phân tích khoa học. Với thủ đoạn ấy, người viết có thể tạo cảm giác “phát hiện mới”, nhưng thực chất là phá vỡ nguyên tắc cơ bản của nghiên cứu lịch sử.
Lịch sử là một chỉnh thể. Mỗi sự kiện, nhân vật, quyết sách đều phải được đặt trong bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, quan hệ quốc tế và tương quan lực lượng của thời điểm đó. Không thể đánh giá Cách mạng Tháng Tám nếu bỏ qua ách thống trị của thực dân, phát xít, nạn đói, khủng hoảng đường lối cứu nước và khát vọng độc lập của dân tộc. Không thể đánh giá cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước nếu bỏ qua bối cảnh đất nước bị chia cắt, quyền tự quyết dân tộc bị xâm phạm, ý chí thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam và sự thật về một cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa. Không thể đánh giá công cuộc đổi mới nếu tách nó khỏi yêu cầu khách quan phải tháo gỡ khủng hoảng kinh tế - xã hội, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân và kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Các bài viết phản bác luận điệu sai trái về tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Những quan điểm phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh thường dựa trên sự tách rời, cô lập, siêu hình hóa một số luận điểm. Họ cố tình không nhìn thấy tính hệ thống, tính khoa học, tính cách mạng và tính nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ cũng không nhìn thấy sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa lời nói và việc làm, giữa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giữa giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Vì vậy, phản bác thông tin sai lệch về lãnh tụ trước hết phải phục hồi bối cảnh, phục hồi hệ thống, phục hồi phương pháp khoa học.
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một ví dụ điển hình. Một số đối tượng từng cố tình xuyên tạc Di chúc bằng cách tách một số câu chữ khỏi văn mạch, rồi suy diễn theo hướng tầm thường hóa giá trị tư tưởng của văn kiện. Trong khi đó, Di chúc là văn kiện lịch sử vô giá, kết tinh tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thể hiện tầm nhìn về xây dựng Đảng, chăm lo nhân dân, bồi dưỡng thế hệ cách mạng đời sau, phát triển kinh tế, văn hóa, xây dựng đất nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Việc cố tình bẻ cong ý nghĩa Di chúc không phải là nghiên cứu, mà là thủ đoạn nhằm hạ thấp biểu tượng tinh thần của dân tộc(8).
Tương tự, việc phủ nhận Nghị quyết của UNESCO tôn vinh Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam cũng là biểu hiện của sự bất chấp chứng cứ. Các tài liệu nghiên cứu đã chỉ rõ, Nghị quyết 24C/18.65 của Đại hội đồng UNESCO khóa 24, năm 1987, có nội dung về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi chứng cứ quốc tế đã rõ, việc tiếp tục phủ nhận chỉ cho thấy mục đích không phải là tìm kiếm sự thật, mà là cố tình gieo nghi ngờ vào một giá trị đã được thừa nhận rộng rãi(9).
Về mặt pháp lý, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được Hiến pháp bảo đảm, nhưng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, quy định tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân(10). Những quy định này cho thấy, việc bảo vệ sự thật lịch sử không chỉ là yêu cầu chính trị - tư tưởng, mà còn là yêu cầu pháp quyền.
Từ góc độ khoa học, đội ngũ trí thức, cán bộ nghiên cứu, giảng dạy cần kiên quyết bác bỏ phương pháp “chứng cứ mảnh vụn”. Không thể lấy một giai thoại thay cho hệ thống tư liệu; không thể lấy một hồi ức chủ quan thay cho hồ sơ lưu trữ; không thể lấy một bình luận trên mạng thay cho công trình khoa học; không thể lấy sự tò mò đời tư để thay thế đánh giá lịch sử về tư tưởng, sự nghiệp và cống hiến của lãnh tụ. Càng trong thời đại số, khi công nghệ có thể tạo lập, cắt ghép, lan truyền và khuếch đại thông tin sai lệch, chuẩn mực kiểm chứng nguồn càng phải được đặt lên hàng đầu.
Chặn đứng chiêu bài xuyên tạc: Cần những giải pháp đột phá
Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các thủ đoạn xuyên tạc hình tượng lãnh tụ, lịch sử dân tộc, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp.
Thứ nhất, tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 35-NQ/TW và Kết luận số 89-KL/TW trong các cơ quan nghiên cứu, đào tạo, báo chí, xuất bản. Cần xác định đấu tranh phản bác thông tin sai lệch về lãnh tụ và lịch sử dân tộc là một nội dung trọng yếu của bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; là nhiệm vụ thường xuyên của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, giảng viên, nhà báo, cán bộ lý luận. Việc quán triệt không dừng ở học tập văn bản, mà phải chuyển thành chương trình nghiên cứu, kế hoạch truyền thông, chuyên đề giảng dạy, đề tài khoa học và sản phẩm công bố cụ thể.
Thứ hai, xây dựng hệ thống luận cứ khoa học về những vấn đề thường bị xuyên tạc. Cần hình thành các bộ tài liệu ngắn gọn, chuẩn xác, dễ sử dụng về các chủ đề, như: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; giá trị Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; ý nghĩa Cách mạng Tháng Tám; bản chất chính nghĩa của các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc; thành tựu đổi mới; quyền tự do ngôn luận trong khuôn khổ pháp luật; trách nhiệm của trí thức trong bảo vệ sự thật lịch sử… Mỗi bộ luận cứ cần có chứng cứ, trích dẫn, gợi ý phản bác và sản phẩm truyền thông kèm theo.
Thứ ba, phát huy trách nhiệm của đội ngũ trí thức, cán bộ nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn trong bảo vệ sự thật lịch sử và nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây là lực lượng có ưu thế về luận cứ, phương pháp, chứng cứ và khả năng tạo lập tri thức chuẩn mực; vì vậy, cần được đặt ở vị trí nòng cốt trong xây dựng, thẩm định và lan tỏa các luận cứ phản bác. Trách nhiệm đó trước hết là trách nhiệm khoa học: Bảo vệ sự thật bằng các công trình nghiên cứu nghiêm túc, có tư liệu, có phương pháp, có kiểm chứng; đồng thời là trách nhiệm đạo đức học thuật: Trung thực với nguồn dẫn, thận trọng trong suy luận, không chạy theo sự giật gân, không dùng danh nghĩa học thuật để hợp thức hóa định kiến cá nhân. Trên cơ sở đó, đội ngũ trí thức cần chủ động tham gia viết bài chính luận, trả lời phỏng vấn, tham gia tọa đàm, cung cấp luận cứ cho báo chí, xây dựng các sản phẩm truyền thông khoa học về lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh; góp phần giáo dục thế hệ trẻ, xây dựng môi trường học thuật lành mạnh, phân biệt rõ tranh luận khoa học với xuyên tạc chính trị.
Thứ tư, nâng cao năng lực thẩm định tư liệu, nhận diện tin giả và phản bác trên không gian mạng cho đội ngũ trí thức, cán bộ nghiên cứu, giảng dạy. Nhà khoa học hiện nay không chỉ cần phương pháp nghiên cứu truyền thống, mà còn cần kỹ năng kiểm chứng nguồn số, phân tích các phương tiện truyền thông xã hội, nhận diện thao túng thông tin, hiểu cơ chế lan truyền thuật toán, biết cách trình bày tri thức trên nền tảng số. Các cơ quan nghiên cứu, trường đại học nên tổ chức bồi dưỡng về truyền thông khoa học, dữ liệu số, đạo đức công bố, an toàn thông tin và kỹ năng phản bác luận điệu sai trái.
Thứ năm, phát triển mạnh truyền thông khoa học về lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh. Cần chuyển hóa các kết quả nghiên cứu thành bài viết đại chúng, infographic, video ngắn, podcast, tọa đàm trực tuyến, chuyên mục hỏi - đáp, dữ liệu mở có kiểm chứng. Không thể chỉ yêu cầu công chúng, nhất là thanh niên, tự tìm đến các công trình hàn lâm dày hàng trăm trang; giới nghiên cứu cần chủ động đưa tri thức khoa học đến nơi công chúng đang hiện diện. Truyền thông khoa học tốt không làm giảm tính nghiêm túc của nghiên cứu; ngược lại, giúp sự thật lịch sử có sức sống xã hội mạnh hơn.
Thứ sáu, tăng cường phối hợp giữa cơ quan nghiên cứu, cơ quan báo chí, nhà xuất bản và nền tảng giáo dục. Các tạp chí lý luận, báo điện tử, nhà xuất bản chính trị, học viện, trường đại học cần có những bài viết phản bác chiều sâu, xây dựng chuyên mục, tạo diễn đàn cho các nhà khoa học có uy tín tham gia. Những vấn đề dư luận đang quan tâm cần được giải thích kịp thời, thuyết phục, tránh để tin giả đi trước quá xa rồi mới phản bác. Trong đấu tranh tư tưởng, tính kịp thời rất quan trọng; nhưng kịp thời phải đi cùng chính xác, bản lĩnh và chuẩn mực.
Thứ bảy, hoàn thiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích và ghi nhận đội ngũ trực tiếp tham gia đấu tranh phản bác. Viết bài phản bác luận điệu sai trái, thù địch là công việc khó, đòi hỏi bản lĩnh chính trị, tri thức sâu, khả năng diễn đạt, chịu áp lực dư luận và đôi khi đối mặt với sự công kích cá nhân trên mạng. Vì vậy, cần có cơ chế động viên, bảo vệ, đào tạo, kết nối chuyên gia; đồng thời đánh giá đúng đóng góp của các nhà khoa học trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây không phải là công việc phụ trợ, mà là một mặt trận quan trọng của khoa học xã hội và nhân văn hiện nay.
Thứ tám, xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do học thuật để xuyên tạc lịch sử theo quy định của pháp luật, đồng thời kiên trì giáo dục, thuyết phục những trường hợp nhận thức lệch lạc do thiếu thông tin. Pháp luật phải nghiêm minh với hành vi cố ý bịa đặt, xuyên tạc, xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; nhưng công tác tư tưởng cũng cần nhân văn, phân hóa đối tượng, lấy thuyết phục bằng sự thật và bằng chứng làm nền tảng. Kết hợp giữa xây và chống, giữa phòng ngừa và xử lý, giữa phản bác và lan tỏa giá trị tích cực là phương thức hiệu quả, bền vững.
Tóm lại, các thủ đoạn lợi dụng danh nghĩa nghiên cứu, phản biện học thuật để xuyên tạc hình tượng lãnh tụ, lịch sử dân tộc là một dạng tấn công tư tưởng nguy hiểm, bởi hướng vào ký ức lịch sử, biểu tượng tinh thần và niềm tin chính trị của xã hội. Khi các luận điệu xuyên tạc được ngụy trang dưới vỏ bọc học thuật, đối thoại, tự do biểu đạt hoặc thông tin “đa chiều”, càng dễ tác động đến công chúng, nhất là thế hệ trẻ trong môi trường truyền thông số.
Đấu tranh phản bác các thủ đoạn đó không thể chỉ dừng ở thái độ lên án, mà phải dựa trên hệ thống luận cứ khoa học, chứng cứ lịch sử, cơ sở pháp lý và phương pháp truyền thông phù hợp. Đội ngũ trí thức, cán bộ nghiên cứu, giảng dạy cần khẳng định trách nhiệm của mình bằng công trình khoa học nghiêm túc, bằng đạo đức học thuật, bằng bản lĩnh chính trị, bằng năng lực phản bác và bằng khả năng truyền thông tri thức đến công chúng.
Trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng gắn liền với bảo vệ sự thật lịch sử, bảo vệ ký ức dân tộc, bảo vệ niềm tin của nhân dân và bồi đắp bản lĩnh cho thế hệ trẻ. Mỗi bài viết khoa học, mỗi công trình nghiên cứu nghiêm túc, mỗi sản phẩm truyền thông chính xác, mỗi tiếng nói phản bác kịp thời đều góp phần làm thất bại các thủ đoạn xuyên tạc hình tượng lãnh tụ, lịch sử dân tộc, qua đó củng cố cơ sở tư tưởng, tinh thần cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
PGS, TS NGUYỄN THỊ BÁO
Nguyên Giảng viên cao cấp, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
--------------------
(1) Điều 25, Hiến pháp năm 2013
(2) UNESCO: Nghị quyết 24C/18.65 của Đại hội đồng UNESCO khóa 24, Paris, năm 1987, về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh
(3) Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, t. 51, tr. 147
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 33, 109
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 81
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 2, tr. 2
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 563
(8) Lê Thế Cương: “Cảnh giác các luận điệu xuyên tạc về Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Báo Công an nhân dân điện tử, ngày 30-8-2024, https://cand.vn/canh-giac-cac-luan-dieu-xuyen-tac-ve-di-chuc-cua-chu-tich-ho-chi-minh-post742096.html
(9) Mạch Quang Thắng - Bùi Đình Phong - Chu Đức Tính: UNESCO với sự kiện tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013
(10) Điều 331, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Theo tapchicongsan.org.vn






Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin