Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ thời khắc ấy, dân tộc Việt Nam bước sang một trang sử mới. 81 năm đã trôi qua, với những người đã sống qua mùa thu lịch sử năm 1945, ký ức về ngày đất nước giành độc lập vẫn vẹn nguyên. Từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, mỗi người đã chứng kiến và góp phần viết nên những trang đầu tiên của một kỷ nguyên mới.
Niềm vui ngày độc lập
Một ngày cuối tháng Tám, chúng tôi đến thăm ông Nguyễn Văn Duy (phường Nha Trang). Ở tuổi 100, trí nhớ của người cán bộ lão thành cách mạng đã suy giảm nhưng những ký ức về mùa thu cách mạng năm 1945 dường như vẫn còn nguyên vẹn. 81 năm trước, với sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh, người dân Khánh Hòa cùng cả nước vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Khi ấy, ông Duy mới 19 tuổi đã hăng hái tham gia chính quyền cách mạng ở Vĩnh Trường. “Khi biết tin Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập vào chiều 2-9-1945 ở Hà Nội, ai cũng vui mừng. Từ đây, người dân đã thoát kiếp nô lệ, chính thức trở thành người dân của một nước Việt Nam độc lập…”, ông Duy nhớ lại.
![]() |
| Bà Mai Thị Tùng kể chuyện với thế hệ trẻ ký ức về những ngày đầu đất nước giành độc lập năm 1945. |
Ở tuổi 100, bà Mai Thị Tùng (phường Tây Nha Trang) còn nhớ khá rõ không khí những ngày đầu đất nước độc lập. “Hồi đó, đi đâu ai cũng nói chuyện đất nước độc lập. Mọi người tham gia vào các tổ chức đoàn thể như: Thanh niên Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc…”, bà Tùng kể. Hưởng ứng “Tuần lễ vàng” do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động, bà Tùng và nhiều bạn bè đã tháo kiềng vàng, lắc vàng để ủng hộ Chính phủ cách mạng. Đằng sau những món đồ trang sức nhỏ bé là một niềm tin lớn lao. Người dân không chỉ vui mừng vì thoát khỏi thân phận nô lệ mà còn mong muốn được góp sức xây dựng chính quyền mới, xây dựng đất nước vừa giành độc lập.
Ông Hoàng Công Thành (99 tuổi, cán bộ lão thành cách mạng, hiện ở phường Bắc Nha Trang) vẫn nhớ rất rõ những ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự phấn khởi của người dân quê ông (làng Đức An, tổng Thượng, phủ Bình Sơn, Quảng Ngãi) khi đất nước độc lập. Theo ông Thành, hồi đó, phương tiện truyền tin còn rất chậm. Phải sau ngày 2-9 vài ngày, tin Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập mới truyền về quê ông. “Chính quyền cho cán bộ truyền tin là đất nước đã độc lập. Nghe tin ai cũng vui mừng, phấn khởi. Đi đâu người dân cũng nói chuyện độc lập; từ đây thoát khỏi thân phận nô lệ, từ đây sẽ có cơm no, áo ấm…”, ông Thành nhớ lại.
Theo hồi ức của Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP (cuốn Những năm tháng không thể nào quên, Hữu Mai thể hiện), những ngày cuối tháng 8-1945, Hà Nội rộn rã như trái tim của một đất nước vừa hồi sinh. Ngoài phố, cờ đỏ sao vàng rợp trời, tiếng hát cách mạng vang từ sáng đến khuya. Quân dân thủ đô gấp rút chuẩn bị cho ngày ra mắt Chính phủ lâm thời, bảo vệ chính quyền vừa giành được.
Ngày 2-9-1945, Hà Nội như chìm trong biển cờ đỏ sao vàng, biểu ngữ nhiều thứ tiếng giăng khắp phố, khẳng định ý chí độc lập của dân tộc. Từ công nhân, nông dân, phụ nữ, thiếu nhi đến các nhà sư, linh mục…, mọi tầng lớp đổ về Quảng trường Ba Đình, quyết có mặt trong ngày hội lớn đầu tiên của đất nước. Dòng người cuồn cuộn từ mọi ngả kéo về. Công nhân áo trắng quần xanh đi đường hoàng, nông dân ngoại thành mang côn, kiếm, cả vũ khí cổ từ đình làng. Thiếu nhi khua trống ếch, hát vang bài ca cách mạng. Chưa bao giờ người nông dân ở những làng xóm nghèo quanh Hà Nội đi vào thành phố với một niềm tự hào như ngày hôm ấy. Trên lễ đài, đội danh dự Quân giải phóng và tự vệ thủ đô đứng nghiêm trang bảo vệ Chính phủ lâm thời. Sau nhiều năm bôn ba, thậm chí mang án tử hình của thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu ra mắt trước một triệu đồng bào. Người mặc bộ ka ki cao cổ giản dị, đi dép cao su, đội chiếc mũ đã cũ. Giọng Bác trầm ấm, rõ ràng, từng câu thấm sâu vào lòng người. Đọc đến giữa bản Tuyên ngôn Độc lập, Bác hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Cả quảng trường đáp vang như sấm: “Có!”. Khoảnh khắc đó, theo Đại tướng, “Bác cùng với cả biển người đã hòa làm một”. Khi tuyên ngôn kết thúc, toàn quảng trường vang lời thề độc lập: "Không đi lính cho Pháp, không làm việc cho Pháp, không bán lương thực cho Pháp, không đưa đường cho Pháp!
Từ ngày 2-9-1945, đất nước bước sang trang sử mới. Những quyền cơ bản của con người, của một dân tộc được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong Tuyên ngôn Độc lập: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Với những người dân vừa thoát khỏi ách nô lệ, những lời ấy hiện hữu trong từng thay đổi của cuộc sống. “Từ một người dân nô lệ, chỉ biết đến sưu cao, thuế nặng, giờ đây người dân đã được tham gia bàn bạc việc làng, việc nước nên ai cũng hồ hởi, phấn khởi”, ông Thành kể. Người dân hăng hái tham gia các tổ chức của chính quyền cách mạng như: Thanh niên Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc; tham gia học chữ ở các lớp bình dân học vụ. Độc lập, với người dân lúc ấy, được cảm nhận bằng những điều rất cụ thể: Được làm chủ; được học chữ; được tham gia bàn bạc việc làng, việc nước và hy vọng về một cuộc sống no ấm hơn.
Lớn lên ở làng quê Hương Thủy, Thừa Thiên Huế, Anh hùng Lao động Hồ Thị Lượm (96 tuổi, hiện ở phường Bảo An) vẫn nhớ về ngày độc lập đầu tiên. Nhắc đến ngày nước nhà giành độc lập, gương mặt bà chợt rạng lên. Những ngày tháng Tám, từ các làng quê, người dân giương cờ, gióng trống đi giành chính quyền rồi hòa vào dòng người hướng về Huế mừng chính quyền cách mạng ra mắt. Ngày 2-9-1945, tin Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập được truyền đi khắp cả nước. Bà Lượm còn nhớ sau đó mấy ngày tin truyền về làng quê của bà, ai nấy đều vỗ tay reo mừng.
Độc lập, tự do - giá trị còn mãi
81 năm đã trôi qua, với những nhân chứng của mùa thu lịch sử năm ấy, những thành quả hôm nay chính là sự tiếp nối những mong ước đã được gieo từ ngày đất nước giành độc lập. Ông Hoàng Công Thành cho biết: "Không chỉ ở thành phố mà đời sống người dân ở làng quê cũng thay đổi rất nhiều. Cách đây 3 năm, tôi về thăm quê ở Quảng Ngãi. Đường nhựa phẳng lì chạy về xã; đường làng, ngõ xóm đều được bê tông hóa. Nhà cửa của người dân khang trang, mừng lắm!”.
![]() |
| Ông Nguyễn Văn Duy kể chuyện truyền thống cách mạng với thế hệ trẻ. |
Chứng kiến sự đổi thay của quê hương, đất nước, bà Hồ Thị Lượm hiểu rõ, độc lập của đất nước đã làm thay đổi cuộc đời mình. Năm 1952, bà Lượm vào bộ đội; năm 1954 tập kết ra Bắc. Sau khi lập gia đình, bà về làm công nhân một xí nghiệp muối ở tỉnh Nghệ An. Từ người nữ liên lạc, người lính, bà lại bền bỉ trên những đồng muối trắng nắng. Từ công nhân, bà trở thành tổ trưởng, đội trưởng sản xuất, đưa năng suất muối có thời điểm đạt 22 - 24 tấn/ha/năm. Một mẩu tin khoảng 200 chữ trên Báo Nghệ An viết về người nữ công nhân miền Nam tập kết có thành tích lao động xuất sắc đã đến tay Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác đọc, yêu cầu xác minh thành tích để tặng bà Huy hiệu của Người. Sự động viên ấy tiếp sức để bà Lượm tiếp tục phấn đấu, trở thành Anh hùng Lao động đầu tiên của ngành muối Việt Nam.
Từ ký ức của các nhân chứng lịch sử có thể thấy, giá trị của độc lập không chỉ được ghi dấu trong những trang sử dân tộc mà còn hiện hữu trong cuộc đời của mỗi con người. Hôm nay, lá cờ đỏ sao vàng vẫn tung bay trong nắng, nhắc nhớ về mùa thu lịch sử năm 1945 và giá trị thiêng liêng của độc lập, tự do. Chúng ta càng thêm tự hào, trân trọng những gì cha ông đã giành được và có trách nhiệm góp sức xây dựng quê hương, đất nước giàu đẹp.
XUÂN THÀNH - THANH XUÂN







Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin