15:40, 30/10/2026

Hoàn thiện Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở nhằm nâng cao tính thực chất và khơi thông sáng kiến từ cộng đồng

THÚY SƯƠNG

Sáng 30-10, Quốc hội tiến hành phiên thảo luận tại Hội trường về  dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi), đại biểu Chamaléa Thị Thủy - Ủy viên Ban Thường vụ tỉnh ủy, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo, Đại biểu Quốc hội tỉnh Khánh Hòa đã đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết, thiết thực từ thực tiễn nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền dân chủ ở cơ sở, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo, đồng thời tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục hành chính ở cơ sở khi triển khai thực hiện Luật này.

Đại biểu Chamaléa Thị Thủy phát biểu thảo luận. Ảnh Quang Vinh

Đánh giá cao tinh thần đổi mới và sự chuẩn bị công phu, nghiêm túc của Cơ quan soạn thảo và Cơ quan thẩm tra dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi), đại biểu khẳng định việc sửa đổi Luật lần này có ý nghĩa rất quan trọng. Đây là bước thể chế hóa kịp thời Chỉ thị số 09-CT/TW của Bộ Chính trị, gắn việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân với tăng cường kỷ luật, kỷ cương xã hội, đồng thời đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia và phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay.

Để góp phần hoàn thiện dự thảo Luật, đại biểu đã tập trung phân tích và đề xuất giải pháp cụ thể đối với ba nhóm vấn đề trọng tâm xuất phát từ thực tiễn cơ sở.

Thứ nhất, cần đảo đảm dân chủ số thực chất tại vùng dân tộc thiểu số, miền núi và biển đảo

Dự thảo Luật đã có bước tiến lớn khi bổ sung nguyên tắc tại Khoản 2 Điều 3 về việc Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi thực hiện dân chủ ở cơ sở. Đồng thời, dự thảo cũng mở rộng các hình thức thực hiện dân chủ trên nền tảng số tại Khoản 5 Điều 3 và Khoản 4 Điều 7.

Tuy nhiên, từ góc nhìn thực tế, đại biểu chỉ ra rằng nếu mở rộng dân chủ số mà không gắn liền với giải pháp hạ tầng và điều kiện tiếp cận thực tế thì rất dễ tạo ra khoảng cách về quyền giữa các vùng miền. Tại các thôn, xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số hoặc vùng biển đảo, hạ tầng viễn thông và sóng 4G/5G hiện chưa thật sự đồng đều; tỷ lệ người dân sở hữu thiết bị thông minh cũng như kỹ năng thao tác trên môi trường số còn hạn chế; một bộ phận bà con chưa thạo tiếng phổ thông. Nếu chính quyền cơ sở chỉ đăng tải thông tin hoặc tổ chức lấy ý kiến qua cổng thông tin điện tử, ứng dụng số thì nguy cơ một bộ phận đồng bào khó thực hiện một cách thực chất quyền dân chủ của mình.

Từ thực trạng đó, đại biểu kiến nghị dự thảo Luật cần thể hiện rõ nguyên tắc: Việc ứng dụng nền tảng số phải thực hiện song song với việc duy trì ổn định, hiệu quả các phương thức dân chủ trực tiếp truyền thống như họp thôn, tổ dân phố, tránh làm thu hẹp quyền của dân khi chưa đủ điều kiện tiếp cận công nghệ. Đồng thời, Luật cần quy định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư hạ tầng số vùng khó khăn; xây dựng các ứng dụng số cơ sở có giao diện đơn giản, thân thiện, có tích hợp hỗ trợ âm thanh và song ngữ tiếng Việt cùng tiếng dân tộc thiểu số phổ biến ở địa phương.

Thứ hai, cần tháo gỡ quy định "10% chữ ký" nhằm khơi thông sáng kiến dân sinh từ cơ sở

Một nút thắt kỹ thuật khác được đại biểu phân tích sâu sắc là quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 13 dự thảo Luật, yêu cầu công dân muốn đề xuất sáng kiến để cộng đồng dân cư bàn và quyết định phải có sự đồng thuận bằng văn bản của ít nhất 10% tổng số hộ gia đình tại thôn, tổ dân phố.

Phân tích thực tiễn tại cơ sở, đại biểu nhấn mạnh quy định tỷ lệ cứng 10% bằng văn bản là quá cứng nhắc và rất khó thi hành. Ở các thôn, buôn miền núi có địa hình chia cắt, các hộ gia đình sống thưa thớt cách xa nhau hàng kilômét, việc đi lại xin chữ ký của 10% số hộ gia đình là vô cùng vất vả. Ngược lại, tại các tổ dân phố đô thị hoặc khu chung cư cao tầng quy mô hàng nghìn hộ, việc tập hợp chữ ký của hàng trăm hộ cho một sáng kiến dân sinh nhỏ như sửa chữa đường nội khu hay lắp đèn chiếu sáng gần như bất khả thi.

Trong khi đó, nhiều sáng kiến thiết thực của bà con vốn xuất phát từ ý kiến tại các cuộc họp tổ dân phố, họp thôn, hoặc qua sự gợi mở của Già làng, Trưởng bản. Việc áp đặt thủ tục hành chính 10% chữ ký sẽ vô tình triệt tiêu tinh thần chủ động, hiến kế của nhân dân.

Do đó, đại biểu kiến nghị không nên quy định một tỷ lệ phần trăm cố định trong Luật. Thay vào đó, dự thảo nên chỉnh lý theo hướng: Sáng kiến của công dân chỉ cần có sự đồng thuận của một số đại diện hộ gia đình hoặc được Ban công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố đánh giá là mang lại lợi ích chung cho cộng đồng thì Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng dân phố có trách nhiệm đưa ra cộng đồng dân cư bàn và quyết định. Mọi quy định thủ tục cần tạo điều kiện thuận lợi nhất để khơi dậy sức sáng tạo và tinh thần tự quản trong nhân dân.

Thứ ba, cần phát huy vai trò Già làng, Trưởng bản và Chức sắc tôn giáo trong giám sát cơ sở

Về cơ chế giám sát ở cơ sở, dự thảo Luật quy định chấm dứt mô hình Ban Thanh tra nhân dân tại các cơ quan, đơn vị không có tổ chức công đoàn tại Khoản 3 Điều 65 và tiến hành tái cơ cấu các hình thức giám sát.

Đại biểu đánh giá, trong công tác dân tộc và tôn giáo, lực lượng Già làng, Trưởng bản, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số cùng các chức sắc, chức việc, nhà tu hành các giáo hội chính là "cánh tay nối dài" vô cùng quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Đây là những người có uy tín tự nhiên, sâu sát địa bàn, lắng nghe tâm tư và có khả năng hòa giải, giám sát cộng đồng rất hiệu quả. Tuy nhiên, dự thảo Luật chưa thể hiện rõ cơ chế thu hút, phối hợp và phát huy lực lượng đặc thù này trong các hoạt động giám sát ở cơ sở cũng như trong Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng quy định tại Điều 28 và Điều 29.

Để khắc phục hạn chế này, đại biểu kiến nghị bổ sung một khoản tại Điều 63 về trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Theo đó, quy định rõ: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã có trách nhiệm chủ trì phối hợp với các tổ chức thành viên thiết lập cơ chế cộng tác, tham vấn ý kiến của Già làng, Trưởng bản, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số và các chức sắc, chức việc tôn giáo trên địa bàn trong việc tuyên truyền, giám sát thực hiện dân chủ ở cơ sở. Đồng thời, cần quy định ưu tiên mời người có uy tín và đại diện cộng đồng tôn giáo tham gia Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng đối với các dự án đầu tư công, dự án an sinh xã hội triển khai trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và cơ sở tôn giáo./.

THÚY SƯƠNG